Trì Giới Với Việc Vãng Sinh

ĐĐ. Thích Trúc Thái Minh

Trì Giới Với Việc Vãng Sinh

Thưa toàn thể quý Phật tử, chúng ta đã biết trong kinh Quán Vô Lượng Thọ, Đức Phật dạy về tam phước vãng sinh. Phước thứ  nhất là hiếu thuận với cha mẹ cung kính phụng dưỡng sư  trưởng, từ tâm bất sát tu mười thiện nghiệp. Phước thứ hai là quy y Tam Bảo thọ trì giới pháp oai nghi, phước thứ ba là phát tâm Bồ Đề tin sâu nhân quả, đọc tụng kinh điển đại thừa và khuyến tấn người khác tu học. Thì hôm nay chúng ta sẽ đi sâu vào vấn đề trì giới với việc tu vãng sinh, thì vai trò của giới luật thế nào đối với vấn đề tu vãng sinh, nhiều khi quý Phật tử bây giờ bảo là chúng con chỉ niệm Phật thôi, những cái khác không quan trọng. Rồi có khi niệm Phật mà vẫn phạm giới ỉ rằng  khi gần chết niệm mười niệm nhất tâm là Phật đón, nên nghĩ rằng giờ cứ phạm giới thoải mái. Nên hôm nay chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu vấn đề này cho rõ ràng, tránh nhầm lẫn để khi chúng ta hành trì được đầy đủ nhân duyên vãng sinh về cõi Phật. Trong kinh Di Đà Phật dạy “này Xá Lợi Phất chớ nghĩ rằng một chút ít thiện căn phước đức nhân duyên mà được vãng sinh cõi Cực Lạc”, chúng ta đừng nghĩ rằng chỉ với một chút ít thiện căn mà có thể vãng sinh, chúng ta phải kiểm lại mình xem thiện căn đã sâu dày chưa, phước đức đã to lớn chưa, mà cho rằng chỉ cần đến lúc chết với mười niệm mà được vãng sinh thì rất nguy hiểm. Hôm nay để nói về giá trị của việc trì giới Thầy trích một mẩu chuyện trong kinh Pháp Cú: khi Đức Phật mới đắc đạo Ngài giáo hóa ở thành La Duyệt Kỳ rồi đi đến nước Xá Vệ, vua nước Xa Vệ và quần thần vô cùng quý kính Đức Phật. Lúc đó ở nước ấy có vị đại thương gia tên là Ba Lợi, ông ta cùng năm trăm vị thương khách ra biển tìm châu báu, giữa biển đoàn gặp một vị hải thần, với cái nhìn của đạo Phật thì thế giới của chư thần rất nhiều. Núi có thần núi gọi là Sơn Thần, sông có thần sông gọi là Thủy Thần và thần biển gọi là Hải Thần, cây có thân cây gọi là Mộc Thần vv… chúng ta hay gọi quý vị là quỷ Thần. Và có một thế giới thần nữa là cõi A Tu La cõi thần này gần với cõi trời, các vị thần này hay cãi nhau đánh nhau với các vị trời lắm, các vị thần A Tu La này là do tiền kiếp tu hành có làm phước nhưng hay kiêu mạn, sân hận ganh tỵ nên chết sinh làm A Tu La. Các đình miếu của chúng ta cũng là thờ thần, những vị đó khi sống có công lao lớn đối với làng đó chết được phong làm thần. Thì ông Hải Thần này là thần biển, ông vốc một vốc nước ngọt lên mà hỏi anh chủ thương buôn Ba Lợi “nước biển nhiều hay nước trong vốc tay của ta nhiều?” thì ông Ba lợi thưa “vốc nước này nhiều vì sao, vì nước biển tuy nhiều mà vô ích, lúc cần không thể cứu cho người khát nước được, vốc nước này tuy nhỏ ít nhưng gặp kẻ khát có thể đem cứu họ, nhờ đó đời đời hưởng phước không thể tình đến”. Tức là ông Ba lợi này ông so sánh nước trong tay ông Hải Thần với nước ở biển, ông nói nước trong tay ông Hải Thần nhiều, nước biển tuy thế mà không phải nhiều, vì khi cần nó không thể cứu cho người khát được, còn nước trên tay là nước dùng cứu khát được, cứu được người khát rồi người đó làm vô lượng việc phước nên tôi gọi nước ấy nhiều. Tức là đây đang xét về mặt lợi ích, nhiều lúc chúng ta đang ở biển khát nước, nước biển thì nhiều nhưng không thể làm chúng ta bớt khát được. Ông Hải Thần nghe ông thương buôn nói vậy thì biết đây là bậc có trí nên khen ngợi và cởi xâu chuổi hương anh làm bằng thất bảo trên thân biếu cho thương buôn Ba Lợi và hộ tống đoàn thuyền về nước Xá Vệ bình yên vô sự. Chúng ta ra biển biển cả sóng gió mênh mông dập dồn rất sợ, nếu không có sự hộ trì của các vị thần biển này thì khó an toàn. Khi ông Ba Lợi này về nước thì ông dâng xâu chuổi hương anh này lên vua Ba Tư Nặc, ông vua Ba Tư Nặc là bạn của Đức Phật ông bằng tuổi Phật. khi thái tử bắt đầu đi tu thì gặp vua Ba Tư Nặc, ông nhường nữa ngôi vua cho thái tử Tất Đạt Đa nhưng thái tử không đồng ý, vì thái tử đã bỏ cả vương vị đi tìm đạo Ngài đâu có màng tời danh vị. Thì  vua Ba Tư Nặc bảo khi nào Ngài thành đạo thì Ngài về độ cho tôi, sau đó như lời thỉnh cầu đó sau khi Phật thành đạo thì Ngài quay về độ cho vua Ba Tư Nặc. thì vua Ba Tư Nặc là một vị vua rất thuận thành đặc biệt ông có bà vợ là hoàng hậu Mạt Lợi phu nhân cũng là người vô cùng kính tín Tam Bảo. Khi nhà thương gia Ba Lợi dâng chuổi hương anh cho vua thì kể cho vua Ba Tư Nặc nghe câu chuyện như thế này: cái chuổi hương anh này không phải là món đồ trang sức của người bình thường đâu, nên nay tôi đem dâng lên bệ hạ mong Ngài nhận cho. Đức vua nhân được chuổi ngọc thấy vô cùng quý giá liền cho gọi các phu nhân ra để trình diện, vị nào đẹp nhất thì tặng cho xâu chuổi hương anh này. Chúng ta thấy sắc đẹp lúc này mới thật là có giá trị đúng không? Mà chúng ta có biết làm sao để được đẹp không? Trong kinh nhân quả Phật có dạy rồi, đời nay dâng hoa tươi cúng Phật thì đời sau sinh ra được nhan sắc tươi tốt, hoặc tu tâm từ bi không oán hận ai, thì cũng được nhan sắc tươi tốt, người mà suốt ngày oán hận thì chỉ xấu xí và nhanh già thôi. Bấy giờ tất cả các cung phi mỹ nữ đều trang điểm lộng lẫy bước ra, nhưng thiếu hoàng hậu Mạt Lợi. Vua  mới hỏi sao hôm nay thiếu hoàng hậu Mạt Lợi không ra trình diện, thì mọi người bảo là, hôm nay ngày rằm Mạt Lợi phu nhân giữ giới trì trai không trang điểm nên không ra. Như quý Phật tử lên chùa thọ bát quan trai một ngày một đêm thì giữ giới không trang điểm. vì sao Phật chế giới không trang điểm? vì đạo Phật là đạo đi đến chân lí thấy đúng sự thật, con người chúng ta thường trái chân theo vọng, thân mình thực sự là bất tịnh hôi hám, chúng ta giã dối che đậy nó, xức nước hương nước hoa cho nó. Nói đến đay thì ở Việt Nam mình cũng có ông vua rất độc đáo, đó là vua Tràn Thái Tông, ông biết đạo Phật nên với vấn đề sắc đẹp ông xem rất nhẹ, nên nhưng cung phi mỹ nữ mà càng trang điểm kỹ thì ông quở rất nhiều, ông bảo là “ các cô chỉ toàn dùng son phấn át mùi phân thối, cắt the lụa bọc túi máu tanh”. Ông nói nghe có vẽ cay nghiệt nhưng chúng ta ngẫm lại cho kỹ thì qur thật không ngoa đúng không, trong kinh Phật còn nói thân mình còn bất tịnh hơn cả cống rảnh. Chính vì thế nên Phật chế giới này, để chúng ta thấy sự thật thân thể không đắm nhiễm, có nhiều vị thân thể đẹp quá đắm nhiễm vào nên khi chết không siêu thoát được. Trong kinh Phật có câu chuyện, có vị này xinh đẹp lắm cở á hậu bây giờ, chết rồi thần thức bay ra ngoài nhìn thấy thân mình đẹp quá, tiếc mà cứ luẩn quẩn loanh quanh ở đấy, do nghiệp lực chiêu cảm mà đọa làm con ròi trong lỗ mũi của thân mình, con ròi cứ chui ra lỗ mũi bên này chui vào lỗ mũi bên kia. Lúc sau có vị Sa Môn đã đắc quả A La Hán đi đến nhìn thấy anh chông đứng bên cạnh khóc lóc, vị A La Hán bảo anh chồng bắt con ròi ra, và bảo con ròi này chính là vợ ông đấy. Thì ông chồng bắt con ròi ra và vị A La Hán thuyết pháp, ngay đấy thần thức của cô gái này trong hình dạng con ròi liền giác ngộ, con ròi chết và được siêu thoát. Cũng có nhiều vị chết rồi nhưng yêu mến thân mình quá, mà sau khi chết chôn ba tấc đất rồi nhưng thần hồn cứ chui ra chui vào nắm mồ, hôm nay thì vào xem thân xác của mình đã phình chưa, ngày mai thì vào xem thân mình đã vở chưa. Thế mà thấy hôm nay mắt bị nổ chẳng hạn thì liền về nhà kêu khóc với người nhà, rồi cứ thế hết bộ phận này đến bộ phận khác, người này rất đau đớn và chỉ biết than vãn với người nhà. Nên Đức Phật của chúng ta thấy đúng sự thật và Ngài chế giới không trang điểm để chúng ta cũng không đắm nhiễm nơi thân xác, để chúng ta không tốn thời gian tô son trát phấn cho cái thân này làm gì. Cái bệnh chấp thân này nhiều lắm, nhiều chiến sĩ hy sinh cả trăm năm rồi mà cũng không đi được, vì cho rằng đây là xương của tôi, đây là đầu tôi, ai mà động đến chổ xương đó thì quấy quả người ta, khổ vô cùng. Mà Phật tử chúng ta muốn vãng sinh thì cũng không nên chấp thân này, không nên tô son trát phấn cho cái thân này, mà phải thấy được sự bất tịnh của thân mình. Và Phật cũng dạy hàng đệ tử pháp quán thân bất tịnh để chúng ta nhàm chán thân này, Phật dạy quán từng bộ phận như tim gan phèo phổi, quán phân tiểu máu mủ đờm dãi trong cái thân mình, chúng ta quán thế rồi thì thấy chán thân này, chán thế gian này khi đấy chúng ta mới có thể sinh về tịnh độ được. Thì bà Mạt Lợi phu nhân hôm đó giữ giới bát quan trai ngày rằm, nên không tô son trát phấn nên khi vua gọi ra thì bà không ra. Thì ông vua Ba Tư Nặc tức nổi giận, ông nói “ trì trai giữ giới mà dám trái lệnh của vua sao. Gọi đến ba lần như vậy thì hoàng hậu Mạt Lợi mới bước ra, chứ không ông mà nóng quá thì cũng có chuyện. Hoàng hậu bước ra tuy không trang điểm, ăn mặc đơn sơ nhưng đứng giữ đám cung phi, mà sắc đẹp của nàng như mặt trời mặt trăng, gấp bội lúc bình thường. Các Phật tử nghe đến chổ này thì cố gắng nha, giữ giới có cái hay như thế đấy, khi mình giữ giới mà thanh tịnh thì nó có cái đẹp, mà cái đẹp này từ trong tâm hồn tỏa ra. Các thầy các cô đi tu rồi thì đâu có đánh phấn tô son, nhưng ở các quý thầy quý cô luôn toát ra một cái vẽ đẹp thanh cao, nhất là quý hòa thượng cao tăng. Thầy nhớ có lần Thầy gặp cụ hòa thượng Thích Đức Nhuận năm ấy cụ ngoài 90 rồi, khi Thầy bước vào phòng cụ, cụ ngồi dậy thấy như một vầng hào quang tỏa, rất đẹp và thanh khiết. Thì ở đây hòang hậu Mạt Lợi cũng thế vì kính giữ giới luật của Phật, nên không trang điểm nhưng bước ra trước các cung phi mỹ nữ thì cái đẹp của bà còn hơn tất cả. Còn bây giờ các cô con gái trang điểm mà mình trông còn thấy sợ, móng tay đánh hoa hòe lòe loẹt, trông rất sợ. Thế thì khi hoàng hậu bước ra cái đẹp rất rực rở làm cho vua Ba Tư Nặc giật mình kính nể, vua Ba Tư Nặc mới hỏi khanh nhờ công đức gì mà thần sắc rạng rỡ như thế? Hoàng hậu Mạt Lợi thưa, thưa bệ hạ thần thiếp tự nghĩ mình thiếu phước nên phải chịu mang thân người nữ, ta thấy bà Mạt Lợi có khiêm tốn không, nhưng thực sự thì trong kinh Phật cũng nói làm thân người nam khó hơn thân người nữ, thân người nam thì công năng nhiều hơn, thân người nữ thì nhiều cái nghiệp chướng hơn, nhưng không phải ai cũng thế, vì có nhiều người tướng nữ nhưng tâm trượng phu, người người nam nhưng tâm thì không được trượng phu chút nào. Nhưng ở đây thân người nữ thì đa số là nghiệp chướng nặng hơn, trong kinh 20 diều Phật dạy, sinh thân người là khó, được thân nam tử lại khó hơn. Hoàng hậu lại nói tiếp, những tâm lí xấu xa nhỏ nhen chất chứa như núi, chắc bà Mạt Lợi cũng nghe Phật dạy về những nghiệp chướng của thân nữ rồi. Mà đa số người nữ thường mắc các tật xấu là, nhỏ nhen chấp nhặt ganh ghét đó kỵ, đấy là bệnh chung của người nữ, ở trên chùa Thầy có cả Ni chúng nên Thầy hiểu rất rõ chuyện này, bên Tăng thì người ta ít chuyện lắm, có giận nhau một lúc xong thôi, còn bên Ni mà giận có khi cả tuần. Đấy là cái tật của thân nữ, cho nên ai mà muốn tu chuyển thân nam thì phải bỏ những tâm niệm xấu ấy đi. Hoàng hậu nói tiếp, mạng người thì ngắn ngủi thần thiếp sợ đọa vào tam đồ ác đạo, nên hàng tháng phải phụng trì trai giới, thực tập cắt ái theo đạo đời đời hưởng phước báu. Hoàng hậu cũng khiêm tốn đúng không? Chúng ta biết phúc báu để được làm bà hoàng hậu thì không phải nhỏ, nhưng bà rất khiêm tốn. Bà nói rằng vì thần thiếp tự nghĩ mình phước báu ít ỏi nên hàng tháng phải trì trai giữ giới bòn mót phước lành, để không bị đọa tam đồ ác đạo để được hưởng phước báu. Thì trì trai ở đây không phải là ăn chay đâu nha, quý Phật tử đừng nhầm lẫn, trì trai là thọ trì tám giới cấm trong ngày bát quan trai thì gọi là trì trai. Đức vua nghe xong hoan hỷ liền ban cho hoàng hậu xâu chuổi hương anh thất bảo. Hoàng hậu mạt lwoij từ tạ đáp thế này, thưa bệ hạ thần thiếp nay trì trai không thích hợp đeo đồ trang sức như thế, xin bệ hạ ban cho người khác. Chúng ta thấy bà hoàng hậu này độc đáo không, một món đồ quý như thế, của một vị thần dâng cúng chứ có phải đồ thường đâu, chúng ta thì chắc chắn là chưa ai có cái này rồi, vàng bạc, ngọc thì có chứ mấy bảo kia là mình chưa có đâu, lưu ly pha lê xà cừ xích châu mã não là mình chưa có đâu. Nhưng mà chúng ta thấy bà hoàng hậu này bảo sao, à hôm nay là ngày Phật chế giới không được đeo đồ trang sức, trang điểm phấn son nên thần thiếp không có nhận đâu, xin bệ hạ hãy ban cho người khác. Cái này mà phải chúng ta có khi là cất ngay, hay vua mà ban cho cô khác thì có khi giành lại bằng được, nhưng hoàng hậu Mạt Lợi thì bà không tham, bà là người đệ tử rất thuận thành và kình trọng giới luật của Phật. Đức vua nói rằng, ta vốn có ý tặng chuổi ngọc này cho người đẹp nhất, hôm nay khanh là người đẹp nhất lại biết trì trai phụng đạo, ý chí cao thượng nên ta tặng cho nàng. Thì bình thường chúng ta có gì đó mà cho ai người ta khởi lòng tham là mình không thích rồi, còn mình cho mà người ta không tham thì mình mới thấy quý. Vấn đề này trong kinh Phật cũng dạy rồi, chúng ta mà cúng dường cho một vị Tăng vị Tăng này mà khởi tâm thích thì phước báu mình nhận được cũng nhỏ, còn cũng với việc cúng dường như thế mà vị Tăng nhận cúng không tham thì mình được phước báu lớn. trong kinh Thập Thiện Phật dạy người mà tâm không tham, không vơ vét của người về làm của mình, mà người này lại biết bố thí thì phước báu vô lượng, người không tham này mong cầu điều gì đều được toại ý và vượt ngoài ý muốn. Chẳng nói đâu xa trong nhà mình có dăm bảy đứa con mà đứa nào tham lam ích kỷ là mình ghét không muốn cho, còn đứa biết nhường biết nhịn thì mình rất muốn cho. Nên Thầy khuyên các Phật tử tu tâm không tham thì được phước báu rất lớn, cái này là nhân quả rất rõ ràng. Thì ở đây cũng thế hoàng hậu Mạt Lợi tâm không tham lam, rất cao cả, đáng nhẽ những vật quý báu như thế mình là hoàng hậu mình đeo mới phải, nhưng hoàng hậu không tham sẳn sàng nhường cho người khác đấy là cao thượng. Vua Ba Tư Nặc nói rằng, nếu hoàng hậu nhất quyết không nhận thì ta sẽ đưa chuổi hương anh này cất đi. Phu nhân Mạt Lợi nói, xin bệ hạ đừng buồn hãy cúng thần thiếp mang chuổi hương anh này đến gặp thế tôn và dâng cúng lên Ngài, để nhận được lời giáo huấn của bậc thánh mà nhận phước muôn đời. Đức vua nghe thế đồng ý ngay, liền cho xa giá đến chổ Phật, đảnh lễ đức Phật rồi ngồi qua một bên, thưa với Đức Phật rằng: bạch Đức Thế Tôn đây là chuổi ngọc mà Hải Thần tặng cho Ba Lợi, ông Ba Lợi dâng lên cúng cho con, sáu muôn phu nhân không ai là không thích cả, nhưng riêng Mạt Lọi phu nhân được tặng lại không nhận. Do vì hôm nay trì tai giữ giới, phật pháp tâm không tham dục, nay chúng con dâng lên Đức Thế Tôn xin Ngài thùy từ nạp thọ, bạch Đức Thế Tôn kiên tâm gìn giữ trai giới có tín tâm như vậy thì có phước đức chăng? Lúc đó Đức Thế Tôn vì lòng thành của vua và hoàng hậu nên nhận chuổi ngọc và nói bài kệ khai thị rằng:

Làm ra nhiều hao báu, kết thành tràng đẹp tươi

Tích chứa nhiều hương đức mỗi đời hạnh phúc hơn,

Hoa thơm hay cỏ lạ không ngược gió xông hương

Người đức hạnh gần đạo hương tỏa khắp muôn phương.

Gỗ chiên đàn thơm ngát hoa sen thơm nghẹt ngào,

Tuy rằng hương thơm thật sao sánh được giới hương.

Hương hoa chẳng bao nhiêu giá trị không thật nhiều

Hương trì giới thù diệu đến cõi trời cao siêu.

Giới thành tựu đầy đủ hạnh giữ chẳng buông lung

Ý an định giải thoát lìa xa khỏi đường ma.

Chúng ta thấy trong tất cả các loài hoa thì không loài hoa nào tỏa hương bay ngược chiều gió, chỉ riêng có hương hoa của người đức hạnh, người giữ gìn và tu trì giới đức thì hương thơm của người này bay đi khắp nơi. Chúng ta thấy điều này là sự thật đúng không? Chúng ta ngày nay cũng thế, nghe ở đâu có người đức hạnh thì chúng ta đều tìm đến, có khi đi cả ngàn dặm đến để mà đảnh lễ mà thọ pháp. Mà tất cả hương các loại hoa thì không có loại hương nào quý bằng hương của người có giới đức. Nên chúng ta có bài nguyện hương là:

Giới hương định hương giữ huệ hương

Giải thoát giải thoát tri kiến hương

Đài mây sáng rỡ trùm pháp giới

Cúng dường chư Phật khắp mười phương

Chúng ta phải hàng ngày dâng được cái hương giới này lên cúng dường Phật, tu tập làm sao để mình tỏa được cái hương của giới đức, thì quả thật người trì giới là có một mùi hương. Ở đây Thầy nghe câu chuyện hòa thượng Tuyên Hóa có nói, theo như luật Phật thì các Thầy có khi nữa tháng tắm một lần, hòa thượng bảo tôi ít tắm lắm, nhưng ai đi gần tôi cũng thấy thơm. Thì quý Phật tử mà có cơ hội đến phòng thất của các bậc cao tăng chúng ta thấy rất đơn giản, nhưng bước vào đấy thì mình thấy được sự thanh khiết, sạch sẽ thơm mát. Quý Phật tử nữ mà trước có duyên vào Đà Lạt tới thất của sư bà Hải Triều Âm, thì thấy thất của cụ mộc mạc không có gì, nhưng khi vào đấy mình thấy sự tịnh khiết rất trong sạch, đấy là do giới đức huân tất cả. Nên người tu chúng ta tu tập sao cho huân được cái hương của giới đức này, cúng dường lên mười phương chư Phật, thì hương đó quý hơn hương của tất cả các loài hoa. Hương các loài hoa thì chẳng được bao nhiêu, mà để vài ngày hoa tàn thì lại có mùi hôi nữa, còn hương của người trì giới thì không bao giờ hư thối, mà nó thù diệu đến tất cả cõi trời.

“Giới thành tựu đầy đủ hạnh giữ chẳng buông lung

Ý an định giải thoát lìa xa khỏi đường ma”

ở đây chúng ta biết lìa đường mà thì theo đường Phật, vì ở cõi pháp giới này không mà thì Phật, không Phật thì ma, nên công đức của trì giới nó rất là giá trị.

Đức Phật nói kệ xong bảo vua và hoàng hậu rằng, công đức phước báu của việc trì trai giữ giới quả thật đáng ca ngợi rông rãi. Dù cho đem trân bảo số lớn như mười sáu nước lớn trong thiên hạ ra bố thí, thì công đức này so với công đức của một người trì trai giữ giới trong một ngày đêm không bằng trong muôn một. Như hạt đậu sánh với núi Tu Di trì trai giữ giới có thể đến được với Niết Bàn. Như vậy chúng ta thấy việc giữ giới rất là giá trị. Thì khi mà đức vua, hoàng hậu cùng các quần thần nghe nói như vậy, ai cũng hoan hỷ tán thán và xin thọ trì giới của Phật. Việc tu hành giới đối với người đệ tử Phật là căn bản đứng đầu, trong tam vô lậu học thì giới là đứng đầu, khi quý Phật tử đi quy y Tam Bỏa là phải phát nguyện thọ trì giới pháp. Với Phật tử tại gia có năm giới phải giữ, nếu mang tiếng Phật tử mà không giữ giới nào thì không xứng danh là đệ tử Phật, không có phẩm cách đệ tử Phật, mà người này không có phẩm cách đệ tử phật thì không thể về với Phật được. Phật cũng từng dạy “ nếu người ở gần ta mà không giữ giới luật của ta thì cũng cách xa ta ngàn dặm, còn người mà ở cách xa ta ngàn dặm mà vâng trì giới luật của ta thì người đó ở ngay bên cạnh ta”. Có hai vị sư từ nước ngoài về thăm Phật, trên đường đi trời nắng quá nên hai vị này rất là khát, thế thì hai vị này nhìn thấy một vũng nước bên đường. Hai anh em mừng lắm chạy đến, khi mà vào vũng nước thì nhìn vào trong vũng nước đầy con côn trùng, thế thì một thầy không uống, vì nghĩ rằng mình uống là uống cả nó vào phạm vào giới sát sinh. Thì các thầy khi uống nước phải uống nước sạch, trước khi uống thì phải dùng đảy lọc nước, nên đi đâu quý thầy cũng mang đảy theo. Thế là thầy em không uống, Thầy anh bảo sao em dại thế, uống đi thì còn sống, sống thì còn về gặp Phật chứ, bảo là thôi chú không uống thì anh uống, rồi thầy kia vốc nước lên uống hết. Đi được một đoạn thì thầy em ngã ra mà chết, thầy anh cứ thế đi về gặp Phật, ở Ấn Độ người ta không đặt nặng việc chôn cất sau khi chết, vì người ta biết cái xác chỉ là cái tạm nương thôi, nên nhiều người chết xong là vứt xác vào rừng cho thú ăn hoặc vứt xuống sông. Sau khi sư anh đến tinh xá trúc lâm gặp Phật, sau khi đảnh lễ Phật xong, thì sư anh này thưa với Phật là, bạch Thế Tôn con về được đến đây gặp Thế Tôn con mừng quá. Thế Phật mới hỏi, trên đường đi có vấn đề gì không sao đi có một mình thế này, Thầy này mới nói, bạch Thế Tôn con có hai huynh đệ cùng đi, nhưng sư đệ con vừa bảo thủ vừa dốt. Chúng con hai huynh đệ đi về trên đường khát nước có vũng nước nhưng sư đệ không chịu uống vì có côn trùng, nên sư đệ con bỏ xác dọc đường rồi, tự hào nói với Phật thế. Đức Phật bấy giờ mới bảo, người nhìn lên đây xem ai đây, sư anh này ngước lên thì thấy một vị chư thiên hào quang rực rỡ, đứng bên cạnh đức Phật, Phật bảo đây chính là sư đệ của ông đấy, ông vì trì giới vì tâm từ bi mà khi bỏ xác ông được sinh thiên và đến thăm ta trước cả ông rồi. Vị chư thiên lúc này chắp tay chào sư huynh của mình, Đức Phật bấy giờ mới dạy, nếu ở bên cạnh ta không trì trai giữ giới thì cũng như cách xa ta ngàn dặm, còn tuy cách ta ngàn dặm mà trì trai giữ giới thì cũng như đang ở bên cạnh ta. Qua câu chuyện này chúng ta cũng thấy được việc tu giới rất quan trọng, giới là nền tảng rất căn bản của tất cả các thiện pháp. Nếu đệ tử Phật mà không giữ giới thì không thể được, tất cả các pháp môn tu không pháp môn nào mà không cần trì giới, giới chính là mảnh đất màu mở để nảy nở cách loài cây tươi tốt . Không giữ giới thì thân không thanh tịnh, thân không thanh tịnh thì tâm không thanh tịnh, giới là cái điều phục nhiếp tâm chúng ta tới chổ thanh tịnh. Nếu quý Phật tử niệm Phật mà thân không giữ giới thì không thể đạt đến chổ nhất tâm được, vì khi thân phạm giới thì nghiệp chướng sẽ nổi lên ngăn che tất cả, công đức tu hành không thể thành tựu được. Chúng ta thấy ở cõi Tây Phương toàn Bồ Tát Thánh Nhân hay các bậc thượng thiện nhân chư vị ấy là những người trì giới rất miên mật không để sai phạm, nên chúng ta muốn về đấy thì cũng cần trì giới của Phật. Không thể nói là không cần trì giới rồi tới khi gần chết niệm Phật mười câu khuyến mại thêm năm câu chắc chắn Phật sẽ rước mình không có chuyện đó đâu. Vì sao vậy? vì người mà lúc sống phá giới phạm trai thì khi sắp lâm chung nghiệp chướng đến che mờ tâm thức không còn biết gì nữa. Còn nếu như một đời gìn giữ giới luật thì rất dễ dàng, chỉ cần công đức trì giới hồi hướng vãng sinh cũng được vãng sinh. Vì khi trì giới thì ba nghiệp thanh tịnh, mà ba nghiệp thanh tịnh thì vãng sinh tịnh độ

                         “tam nghiệp hằng thanh tịnh, đồng Phật vãng Tây Phương”

Chúng ta đã lãnh thọ giới của Phật thì cố gắng giữ gìn, mà quý Phật tử tu cầu vãng sinh thì cần tu mười thiện nghiệp. Đức Lục Tổ có dạy cõi Tây Phương tuy xa cách chúng ta mười muôn ức cõi Phật, xa quá đúng không, một cõi Phật đã xa lắm rồi, nhưng nếu chúng ta tu được mười thiện nghiệp này thì cõi cực lạc lại ở ngay sát bên chúng ta. Chỉ cần chúng ta nhớ thân không sát sinh không trộm cắp không tà dâm, miệng không nói lời thô ác không nói dối không nói lưỡi đôi chiều không nói lời thêu dệt, ý không tham không sân không si, thì người này sau khi bỏ báo thân này chắc chắn có một vé về Tây Phương Cực Lạc. Nếu chúng ta không giữ giới, không tu mười thiện nghiệp này thì chúng ta chỉ có thể ở Đông Phương Cực Nhọc mà thôi nha. Phật cũng từng dạy là tịnh độ là tịnh nơi tâm mình, kinh Di Đà Phật cũng nói là Cực Lạc tuy nói xa nhưng cũng không xa, vì tâm ta tịnh thì cõi Cực Lạc hiện tiền. Còn như có người miệng tuy niệm Phật mà tay móc túi, hay miệng niệm Phật mà lại đi trêu ghẹo vợ người ta, hay miệng niệm Phật mà thân làm việc ác thì người này Thầy chắc chắn không thể vãng sinh được, nên chúng ta niệm Phật nhưng phải nhớ trì giới tu tâm, “người trì giới thanh tịnh một niệm có thể vãng sinh Tây Phương”

Thì hôm nay qua bài chia sẽ về công đức của việc trì giới đối Với việc vãng sinh, Thầy xin chúc toàn thể quý Phật tử hiện đời nhờ công đức trì giới mà được an vui, mãn báo thân đồng sinh về Cực Lạc ,                                                                                                                                                        NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT

^ Back to Top